Đây là bài viết thứ hai trong chuỗi bài viết có tên “Behind the Screen”, nơi mình chia sẻ những kinh nghiệm và bài học trong quá trình xây dựng sveltevietnam.dev. Bạn có thể đọc bài viết đầu tiên tại đây (không liên quan đến bài này).

Ngày nay, giao diện tối (dark mode) đang dần trở thành một tính năng phổ biến và thậm chí là cần thiết để mang lại một trải nghiệm hoàn thiện cho người dùng. Tuy bề ngoài vấn đề là đơn giản nhưng thực tế công việc này đòi hỏi một sự tỉ mỉ và kết hợp nhiều chi tiết nhỏ, tập hợp từ nhiều công nghệ khác nhau. Bài viết này lấy ví dụ trong ngữ cảnh ta dùng Svelte và SvelteKit, tuy nhiên đa số các chi tiết là phi ngôn ngữ, bạn có thể áp dụng chúng vào bất kì framework hay dự án front-end nào.

Chế độ tối với CSS

Trước tiên, hãy nhìn qua cách hiện thực hóa một giao diện tối đơn giản nhất bằng biến CSS (CSS Custom Properties). Hãy lấy ví dụ ta đã thiết lập một hệ thống như sau:

css

:root {
  --color-bg: white;
  --color-fg: black;
}

html {
  background-color: var(--color-bg);
  color: var(--color-fg);
}

Chú ý rằng :root thật ra chỉ là html, ta dùng nó theo quy ước chung để khai báo biến CSS. Khi thay đổi giá trị của các biến --color-* thì giao diện sẽ tự động cập nhật theo.

Hãy tưởng tượng ta có một tính năng thần kỳ, một At-rule có tên là @dark có khả năng kích hoạt nội dung bên trong khi chế độ tối được bật:

css

:root {
  --color-bg: white;
  --color-fg: black;
}

@dark {
  --color-fg: black;
  --color-bg: white;
}

Trong CSS trên, chế độ mặc định là sáng. Khi @dark có hiệu lực, ta sẽ thay đổi giá trị của các biến CSS tương ứng với chế độ tối. Nếu làm được chuyện này, coi như ta đã hoàn thành được hơn nửa công việc. Đáng tiếc là CSS không hỗ trợ cú pháp thần kì này. Nhưng đừng lo: trong các phần tiếp ta sẽ cố gắng giả lập lại tính năng @dark.

Khi nào là tối?

Khi nào thì giao diện tối có hiệu lực? Đa số ứng dụng sẽ cho người dùng lựa chọn chế độ hiện thị giữa hai giao diện light (sáng) và dark (tối) trong cài đặt nào đấy. Tuy nhiên nếu người dùng vừa truy cập ứng dụng lần đầu tiên, thì là light hay dark?

Câu trả lời là ta sẽ phải dựa vào thiết lập của hệ điều hành thông qua tính năng CSS media prefers-color-scheme:

css

@media (prefers-color-scheme: dark) {
  /* thiết lập CSS tương ứng cho giao diện tối */
}

@media (prefers-color-scheme: light) {
  /* thiết lập CSS tương ứng cho giao diện sáng */
}

Như vậy, có bốn tình huống có thể xảy ra:

  1. Người dùng chưa tùy chỉnh gì và chế độ mặc định của hệ điều hành là light
  2. Người dùng chưa tùy chỉnh gì và chế độ mặc định của hệ điều hành là dark
  3. Người dùng đã chủ động tùy chỉnh chế độ light
  4. Người dùng đã chủ động tùy chỉnh chế độ dark

Như vậy, cú pháp thần kì @dark trong phần trước cần giải quyết số (2) và (4). Số (2) là mặc định hệ thống, còn số (4) là tùy chỉnh chủ động từ người dùng.

Tùy chỉnh chủ động

Với (4), ta cần thiết lập thêm HTML để thể hiện tùy chỉnh người dùng và có thể lựa chọn được thông qua các CSS selector. Có nhiều cách làm điều này và thường sẽ thông qua class name hoặc attribute. Trong bài viết này, ta lựa chọn cách sau:

svelte

<html data-color-scheme="dark">
  <!-- nội dung ứng dụng -->
</html>

Giá trị của data-color-schemedark, light, hoặc system. system có nghĩa là tình huống (2) sẽ được áp dụng. Ta sẽ bàn tới cách dùng JS để bắt sự kiện và biến đối thuộc tính trên trong phần sau. Với thiết lập này, ta có thể hiệu chỉnh CSS như sau:

css

:root[data-color-scheme="dark"] {
  /* thiết lập tương ứng */
}

Mặc định hệ thống

Đối với (2), ta đã gần giải quyết được bằng prefers-color-scheme như đã thấy ở trên. Tuy nhiên hãy để ý rằng nếu chỉ có vậy thì người dùng có thể sẽ bị khóa ở một chế độ trừ khi họ thay đổi tùy chỉnh của hệ điều hành.

css

@media (prefers-color-scheme: dark) {
  :root {
    /* ... */
  }
}

Ví dụ người dùng có chọn light trong cài đặt của ứng dụng nhưng hệ điều hành vẫn là dark thì CSS trên vẫn có hiệu lực, vì prefers-color-scheme vẫn là dark. Để bao quát hơn, ta cần thêm điều kiện phủ định:

css

@media (prefers-color-scheme: dark) {
  :root:not([data-color-scheme="light"]) {
    /* ... */
  }
}

Có nghĩa là: nếu chế độ mặc định của hệ điều hành là dark và người dùng không chủ động chọn light thì áp dụng CSS này.


Vậy là cuối cùng ta cũng có thể viết lại CSS ở phần trước và thay thế @dark như sau:

css

/* sáng */
:root {
  --color-bg: white;
  --color-fg: black;
}

/* tối, theo trường hợp (2) */
@media (prefers-color-scheme: dark) {
  :root:not([data-color-scheme="light"]) {
    --color-bg: black;
    --color-fg: white;
  }
}

/* tối, theo trường hợp (4) */
:root[data-color-scheme="dark"] {
  --color-bg: black;
  --color-fg: white;
}

html {
  background-color: var(--color-bg);
  color: var(--color-fg);
}

PostCSS plugin thần kì

Mình có thể nghe bạn nói là “Trời, sao phức tạp quá vậy!?“. Đúng là nếu phải nhớ mà viết tất cả các thứ trên mỗi lần muốn áp dụng một CSS nào đấy cho chế độ tối thì thật quá phiền phức. Ví dụ, ta cần biến đổi style của một phần tử có class .box:

css

.box {
  background-color: blue;
}

/* tối, theo trường hợp (2) */
@media (prefers-color-scheme: dark) {
  :root:not([data-color-scheme="light"]) .box {
    background-color: red;
  }
}

/* tối, theo trường hợp (4) */
:root[data-color-scheme="dark"] .box {
  background-color: red;
}

Quá là nhức đầu đúng không nào. May mắn là, mình đã viết một plugin PostCSS tên là postcss-color-scheme để trừu tượng hóa (abstract) những thứ trên thành chính cú pháp @dark đã thấy:

css

.box {
  background-color: blue;

  @dark {
    background-color: red;
  }
}

Gọn gàng hơn hẳn nhỉ? Mình sẽ không đề cập đến chi tiết plugin này trong bài viết này, bạn có thể đọc thêm tại github của dự án. Nói tóm lại nó sẽ chuyển đổi @dark thành những thứ dài dòng đã nêu. Plugin này còn hỗ trợ cú pháp @light nếu ta cần tới.

CSS cho chế độ tối trong Svelte component

Nếu dùng Svelte một thời gian, bạn sẽ biết rằng CSS trong Svelte là “component-scoped” và Svelte compiler sẽ tự động bỏ đi những CSS không áp dụng được trong component hiện tại. Ví dụ ta có Svelte component sau:

svelte

<div class="box" />

<style>
  .box {
    background-color: blue;
  }

  .something-else {
    color: blue;
  }
</style>

Svelte sẽ thêm một mã hash vào class .box, ví dụ .box.s-SeNnWx1nPv6T. Bên cạnh đó, .something-else sẽ bị lược bỏ đi vì không có phần tự nào với class .something-else trong component này. Nếu muốn giữ lại .something-else, ta cần thêm :global:

css

:global(.something-else) {
  color: blue;
}

Khi ta thiết lập chế độ tối (dù có dùng @dark hay hay không), ta sẽ gặp phải tình huống này, vì html hay :root không tồn tại cục bộ trong component. Khi đấy hãy nhớ thêm :global. Hoặc nếu sử dụng postcss-color-scheme thêm global như sau:

css

.box {
  background-color: blue;

  @dark global {
    background-color: red;
  }
}

Mở rộng: chế độ tối với TailwindCSS

Đây là phần mở rộng bàn về cách thiết lập với TailwindCSS để cải thiện hiệu suất của lập trình viên. Nếu bạn không dùng TailwindCSS hay không có hứng thú hãy bỏ qua và đọc phần kế tiếp nhé.

Sẽ rất tiện lợi nếu ta có thể sử dụng được cú pháp sau:

svelte

<div class="bg-blue-500 dark:bg-red-500 light:text-gray-500" />

dark:light: được gọi là variant trong Tailwind. Plugin postcs-color-scheme đã nêu trong phần trước sẽ giúp thêm hai variant này.

JavaScript tailwind.config.cjs

/** @type {import("tailwindcss").Config } */
module.exports = {
  // your config ...
  darkMode: '',
  plugins: [require('postcss-color-scheme/tailwind')],
};

Hãy xem qua docs tại github để biết chi tiết cách cài đặt. Ngoài ra, ta có thể thêm các biến CSS vào tùy chỉnh theme trong tailwind:

JavaScript tailwind.config.cjs

/** @type {import("tailwindcss").Config } */
module.exports = {
  // your config ...
  darkMode: '',
  plugins: [require('postcss-color-scheme/tailwind')],
  theme: {
    extend: {
      colors: {
        fg: 'var(--color-fg)',
        bg: 'var(--color-bg)',
      },
    },
  },
};

Sau đó ta có thể sử dụng như sau:

svelte

<!-- trong markup -->
<div class="text-fg bg-bg" />

<!-- trong css -->
<style>
  div {
    color: theme('colors.fg.DEFAULT');
    background-color: theme('colors.bg.DEFAULT');
  }
</style>

Thay đổi tùy chỉnh bằng JS

Để người dùng có thể thay đổi chế độ hiển thị một cách chủ động, ta có thể bắt sự kiện từ một nút bấm hay input và sử dụng đoạn mã JS sau:

javascript

/**
 * @param {'dark' | 'light' | 'system'} scheme
 */
function changeColorScheme(scheme) {
  document.documentElement.dataset.colorScheme = scheme;
}

Chú ý rằng nếu bạn đang dùng tính năng Server-side Rendering của SvelteKit thì đoạn code trên chỉ chạy được ở phía client vì nó tham chiếu đến document.

Ngày nay, với tính năng :has của CSS, ta có thể giản lược giải pháp trong bài viết này hơn nữa và không cần đến cả Javascript:

svelte

<input id="is-dark" />

<style>
  :root:has(#is-dark:checked) {
    /* thiết lập tương ứng */
  }
</style>

Bỏ đi sự phụ thuộc vào Javascript sẽ giúp ứng dụng của ta dễ tiếp cận hơn (accessible) cho người dùng. sveltevietnam.dev được phát triển trong thời gian :has được hỗ trợ rộng rãi nên vẫn chưa tận dụng được tính năng này. Mình chắc chắn sẽ thử nghiệm và cải thiện trong thời gian tới.

Cách phổ biến nhất để lưu trữ thông tin tùy chỉnh giao diện là dựa vào web storage như là localStorage hay sessionStorage. Tuy nhiên, vì JS phải được load trước khi ta có thể truy cập tới web storage, tình huống thường gặp là giao diện sẽ hiển thị mặc định rồi sau đó mới chuyển đổi sang đúng tùy chỉnh, gây ra hiệu ứng nhấp nháy khó chịu. Có thể giải quyết cách này bằng việc chặn ứng dụng hiển thị cho đến khi JS đã được load xong, nhưng cách này cũng làm giảm trải nghiệm người dùng không kém, và tệ hơn là cả ứng dụng sẽ ko sử dụng được nếu người dùng không truy cập được JS (điều này xảy ra nhiều hơn ta nghĩ, đọc thêm tại đây).

Nếu ứng dụng của bạn là tĩnh hoặc SPA thì không còn lựa chọn nào khác. Nhưng nếu bạn có server thì có thể làm điều này tốt hơn bằng cookie. Vì cả client và server đều truy cập được cookie, ta có thể đọc nó và gán đúng giá trị ban đầu cho data-color-scheme trong HTML trả về. Hãy cùng đi qua từng bước.

Thiết lập ở client

Trước tiên, thêm PUBLIC_COOKIE_COLOR_SCHEME vào .env để thiết lập một biến môi trường công khai để có thể truy cập từ cả phía client và server (đọc thêm về biến môi trường tại đây):

bash

# .env
PUBLIC_COOKIE_COLOR_SCHEME=color-scheme

Ta dùng biến này để lưu tên của cookie. Thật ra ta có thể dùng chuỗi cứng color-scheme nhưng lưu tên cookie bằng biến môi trường là một quy ước nên làm theo, giúp ta có thể tùy chỉnh một cách linh hoạt tùy theo môi trường mà không cần phải thay đổi mã nguồn.

Tiếp theo, ta sẽ dùng document.cookie API để thiết lập cookie từ phía client. Thêm phần này vào hàm changeColorScheme đã có:

javascript

import { PUBLIC_COOKIE_COLOR_SCHEME } from '$env/static/public';

/**
 * @param {'dark' | 'light' | 'system'} scheme
 */
function changeColorScheme(scheme) {
  document.documentElement.dataset.colorScheme = scheme;
  document.cookie = `${PUBLIC_COOKIE_COLOR_SCHEME}=${scheme}; path=/; SameSite=Lax; Secure`;
}

Thường cookie được thiết lập ở phía server. Tuy nhiên trong trường hợp này, ta làm chủ được cookie sử dụng cho việc gì, và nó cũng không mang thông tin nhạy cảm như định danh hay khóa API. Dùng document.cookie sẽ tiện hơn nhiều vì ta không cần phải cài đặt form action hay API endpoint.

Thiết lập ở server

Ta dùng hooks.server của SvelteKit để đọc cookie và gán giá trị đúng cho thuộc tính data-color-scheme trên HTML trả về trong response.

JavaScript src/hooks.server.js

import { PUBLIC_COOKIE_COLOR_SCHEME } from '$env/static/public';

/** @type {import('@sveltejs/kit).Handle} */
export const handle = async ({ event, resolve }) => {
  const { locals, cookies } = event;

  locals.colorScheme = (cookies.get(PUBLIC_COOKIE_COLOR_SCHEME)) || 'system';

  const response = await resolve(event, {
    transformPageChunk: ({ html }) => html.replace('%cookie-color-scheme%', event.locals.colorScheme)
  });

  return response;
}

Hãy chú ý dòng 11, ta dùng transformPageChunk, một hàm được SvelteKit cung cấp trong resolve, để thay đổi chuỗi cookie-color-scheme theo gía trị của cookie. Để hoàn thiện thiết lập, ta cần sửa src/app.html một tí:

HTML5 src/app.html

<html>
<html data-color-scheme="%cookie-color-scheme%">

Như vậy, ta có thể ví dụ hành trình của người dùng như sau:

  • Người dùng truy cập ứng dụng lần đầu, SvelteKit server hook được kích hoạt, vì cookie PUBLIC_COOKIE_COLOR_SCHEME chưa được thiết lập, cookie-color-scheme được thay thế bằng giá trị mặc định là system trong HTML trả về.
  • Trình duyệt nhận được HTML và tự động lựa chọn chế độ hiển thị dựa trên giá trị prefers-color-scheme từ hệ điều hành.
  • Người dùng thay đổi chế độ hiển thị, cookie được thiết lập, thuộc tính data-color-scheme trên html được cập nhật, CSS được kích hoạt tương ứng và giao diện thay đổi theo đó.
  • Nếu JS được kích hoạt trên trình duyệt và người dùng không chủ động tải lại trang, SvelteKit client-side router sẽ xử lý các điều hướng (chuyển trang) tiếp theo cho đến khi hành trình người dùng kết thúc. Trong suốt quá trình này SvelteKit server hook không chạy lại.
  • Khi người dùng tải lại trang hoặc mở trang mới, SvelteKit server hook được kích hoạt, cookie được đọc và giá trị data-color-scheme được cập nhật tương ứng. Nếu giá trị là light hoặc dark, CSS được thiết lập cho chế độ sáng / tối sẽ có hiệu lực, thay vì sử dụng mặc định của hệ điều hành. Chu trình trên được lặp lại sau đó.

Ta có thể xác minh HTML được render từ server với giá trị data-color-scheme tương ứng bằng cách xem cửa sổ Network trong Devtools của Chrome ngay trên trang bạn đang đọc:

Chụp màn hình cửa sổ Network, Devtook của Chrome, hiển thị đúng thuộc tính data-color-scheme

Hỗ trợ Typescript

Nếu bạn dùng Typescript, có thể thêm đoạn mã sau vào src/app.d.ts để thỏa type checker:

typescript

declare global {
  namespace App {
    declare type ColorScheme = 'light' | 'dark' | 'system';

    interface Locals {
      colorScheme: ColorScheme;
    }
  }
}

Mở rộng: truy cập chế độ giao diện bằng JS với Svelte context

Phần mở rộng này bàn về việc thiết lập Svelte context để có thể kiểm tra chế độ giao diện từ bất kì component nào trong ứng dụng. Bạn có thể lượt qua nếu không có nhu cầu này.

Trong đoạn mã ở phần Thiết lập ở server vừa qua, ta lưu giá trị của cookie vào event.locals.colorScheme. Đối tượng locals cùa SvelteKit giúp ta có thể truy cập các trạng thái server từ hook.server, layout.server, hoặc page.server.

JavaScript src/routes/+layout.server.js

import type { LayoutServerLoad } from './$types';

export const load: LayoutServerLoad = ({ locals }) => {
  return { colorScheme: locals.colorScheme };
};

Với đoạn mã trên ta có thể truy cập colorScheme từ đối tượng data trong các tệp +layout hoặc +server:

Svelte src/routes/+layout.svelte

<script>
  /** @type {import('./$types).LayoutData} */
  export let data;

  console.log(data.colorScheme);
</script>

Tuy nhiên, nếu muốn truy cập đến colorScheme từ các component con, ta phải truyền prop xuống, có thể là nhiều lần để đến được component cháu, chắt theo mong muốn. Cách khác gọn hơn là dùng Svelte context, kết hợp với store.

Trước hết, ta tạo một tệp riêng để định nghĩa context và các logic cần thiết:

JavaScript src/lib/contexts/color-scheme.js

import { getContext, setContext } from 'svelte';
import { derived, writable } from 'svelte/store';

import { browser } from '$app/environment';
import { PUBLIC_COOKIE_COLOR_SCHEME } from '$env/static/public';

const COLOR_SCHEME_CONTEXT_ID = 'colorscheme';

/**
 * requires `window.matchMedia` (only in browser context)
 * @returns user's color scheme preference
 */
function getPrefersColorScheme() {
  if (!browser) return 'light';
  return window.matchMedia?.('(prefers-color-scheme: dark)').matches ? 'dark' : 'light';
}

/**
 * @param {App.ColorScheme} initial
 */
function createColorSchemeStore(initial) {
  const store = writable(initial);

  const preferred = derived(store, (c) => (c === 'system' ? getPrefersColorScheme() : c));

  return {
    subscribe: store.subscribe,
    /**
     * @param {App.ColorScheme} scheme
     */
    change(scheme) {
      document.documentElement.dataset.colorScheme = scheme;
      document.cookie = `${PUBLIC_COOKIE_COLOR_SCHEME}=${scheme}; path=/; SameSite=Lax; Secure`;
      store.set(scheme);
    },
    preferred,
  };
}

/**
 * @param {App.ColorScheme} initial
 */
export function setColorSchemeContext(initial) {
  return setContext(COLOR_SCHEME_CONTEXT_ID, createColorSchemeStore(initial));
}

/**
 * @returns {ReturnType<getContext<ReturnType<typeof setColorSchemeContext>>}
 */
export function getColorSchemeContext() {
  return getContext(COLOR_SCHEME_CONTEXT_ID);
}

Nếu dùng typescript, bạn hãy tham khảo mã nguồn tương tự của sveltevietnam.dev tại đây. Mình sẽ không đi chi tiết đoạn mã trên, nếu có câu hỏi hoặc cần thảo luận thêm hãy tham gia Discord nhé!

Bây giờ ta có thể sử dụng setColorSchemeContext để khai báo context:

Svelte src/routes/+layout.svelte

<script>
  import { setColorSchemeContext } from '$lib/contexts/color-scheme';
  /** @type {import('./$types).LayoutData} */
  export let data;

  console.log(data.colorScheme);
  setColorSchemeContext(data.colorScheme);
</script>

Và sử dụng getColorSchemeContext để truy cập context:

Svelte SomeComponent.svelte

<script>
  import { getColorSchemeContext } from '$lib/contexts/color-scheme';

  const colorSchemeStore = getColorSchemeContext();

  $: preferred = colorSchemeStore.preferred;
</script>

preferred sẽ là light hoặc dark (lượt bỏ system), và sẽ được cập nhật tự động mỗi khi người dùng thay đổi chế độ hiển thị.

Hợp tác hiệu quả với thiết kế viên

Thật ra, các chi tiết thực hiện bên trên không phải là điều phức tạp nhất; một khi ta đã hiểu và thực hiện lần đầu, các lần sau sẽ tương tự và dễ dàng hơn. Điều khó hơn trong việc làm ra một giao diện tối, hay nói chung về bất cứ hệ thống màu sắc nào, là giao tiếp hiệu quả giữa đội ngũ thiết kế và kỹ thuật.

Mỗi dự án và đội ngũ thiết kế sẽ có những quy ước và cách làm riêng, tuy nhiên điều quan trọng nhất, đứng trên phương diện của một lập trình viên, là sự có mặt của tiếng nói kỹ thuật trong quá trình thiết kế, đặc biệt là từ những bước đầu. Với kinh nghiệm ít ỏi của mình trong ngành, những suy nghĩ tưởng chừng là hiển nhiên đối với lập trình viên không phải bao giờ cũng dễ hiểu đối với thiết kế viên, và ngược lại. Hợp tác giữa hai bên nói tóm lại sẽ giúp lập trình viên sử dụng được những gì thiết kế viên làm ra và tránh thay đổi tới mã nguồn hoặc bản vẽ về sau.

Hãy chú ý tới thiết kế bảng màu (color palette). Mỗi màu nên là một “design token” được giao tiếp rõ ràng cho cả thiết kế viên và lập trình viên. Bảng màu có lẽ là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong mọi “design system”. Cách tổ chức bảng màu để tương thích với các ứng dụng có chế độ tối sẽ phức tạp hơn bình thường một tí vì mỗi màu có thể tồn tại hai phiên bản cho hai giao diện tương tứng.

Tại sveltevietnam.dev, mình phân biệt giữa bảng màu gốc (primitive colors) và bảng màu ngữ nghĩa (contextual/semantic colors). Bảng màu gốc là các màu cơ bản ta đã biết: xanh, đỏ, vàng, … Các màu khác sẽ được xây dựng dựa trên bảng màu cơ bản này tùy theo từng ngữ cảnh trong ứng dụng. Ví dụ, màu cho nền hay văn bản, chính (primary) hay phụ (secondary), thể hiện trạng thái như thành công, cảnh báo, thất bại, … Để hiểu rõ thêm về cách triển khai hệ thống vừa nêu, bạn có thể ghé thăm trang Màu sắc của Svelte Việt Nam.

Dự án sveltevietnam.dev cũng sử dụng Figma làm công cụ thiết kế và tận dụng tính năng Variable để thể hiện các bảng màu trên. Cách này giúp thiết kế viên chủ động ý thức được về các design token tương ứng tới các biến CSS trong quá trình phát triển dự án.

Kết bài

Chúng ta đã đi qua rất nhiều chi tiết và khía cạnh khác nhau của việc thiết lập chế độ tối cho ứng dụng SvelteKit nói riêng, và một dự án front-end nói chung. Nếu bạn vẫn còn đọc đến tận đây thì thật là xuất sắc - cảm ơn bạn đã kiên nhẫn với sự dài dòng của mình. Nếu bạn có bất kì câu hỏi hay ý kiến gì, hãy tham gia Discord của Svelte Việt Nam để thảo luận thêm nhé!

Hãy đọc tiếp phần ba của chuỗi bài viết “Behind the Screen” tại đây bạn nhé!


Bạn tìm thấy lỗi chính tả hay cần đính chính nội dung? Sửa trang này tại Github